
Giá phân bón đã tăng 50% kể từ khi khủng hoảng Iran bùng nổ và 83% kể từ đầu năm nay. Giá tăng, nhưng nguồn cung bị siết chặt, khiến Đông Nam Á phải chuẩn bị đối phó với khủng hoảng thiếu hụt, nhưng mức độ tổn thương ở từng ngành, từng nước lại khác nhau.
Tình hình tệ hơn hồi khủng hoảng Ukraine
Hồi đầu tháng 3, hơn 20 con tàu chở gần một triệu tấn phân bón đang mắc kẹt ở khu vực Vịnh Ba Tư giữa lúc Iran đóng cửa trên thực tế eo biển Hormuz, theo hãng nghiên cứu Kpler.
“Gián đoạn nguồn cung lần này có thể gay gắt hơn thời điểm khủng hoảng Nga – Ukraine năm 2022. Giá phân bón đang leo thang, nhưng hiện vẫn chưa thiếu hụt trầm trọng. Tuy vậy, tình hình có thể tệ hơn nếu khủng hoảng Trung Đông tiếp diễn”, theo Laura Cross, Giám đốc dự báo thị trường thuộc Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA).
Phân urê là trọng tâm của khủng hoảng, bởi gián đoạn nguồn cung nitơ, phốt pho và kali – ba nguyên liệu quan trọng trong sản xuất phân bón. Giá urê hiện là 717,14 đô la/tấn, tăng 83% kể từ đầu năm và 50% kể từ khi Mỹ và Israel tấn công Iran hôm 28-2, theo trang Fertilizerworks.com.
Vịnh Ba Tư chiếm khoảng 30-35% lượng xuất khẩu urê toàn cầu, theo Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO). Trung Đông cũng là nguồn cung chính khí tự nhiên, nguyên liệu thô để sản xuất urê và chiếm 60-90% giá thành. Trong năm 2024, khoảng 20% thương mại khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu đã đi qua eo biển Hormuz, theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ.
Đà tăng giá urê càng trầm trọng hơn khi Trung Quốc, một nhà sản xuất lớn trên toàn cầu, siết chặt xuất khẩu phân bón.
Nitơ được nông dân ưu tiên duy trì sử dụng dù giá cao, theo lời bà Cross. Trong trường hợp cấp bách, nông dân cũng dừng bón phốt pho và kali trong một mùa vụ, nhưng không bỏ nitơ. Bởi các loại ngũ cốc chính như lúa gạo, lúa mì và bắp đặc biệt rất cần nitơ, theo IFA.
Thái Lan dễ bị tác động
Ở Đông Nam Á, Thái Lan nổi lên như một quốc gia đặc biệt dễ bị ảnh hưởng.
“Năm 2025, Thái Lan đã nhập khẩu 1,8 triệu tấn nitơ nguyên liệu thô từ Trung Đông, chiếm 55% tổng lượng nhập khẩu”, trung tâm nghiên cứu Krungthai Compass thuộc Ngân hàng Krungthai viết trong một báo cáo gần đây.
Chính phủ cho biết Thái Lan có đủ lượng phân bón dự trữ cho đến tháng 8-2026. Sau đó, tình trạng thiếu hụt có thể xảy ra nếu mức nhập khẩu không trở lại bình thường.
Một số nước ASEAN có sản lượng phân bón dồi dào.
“Theo quan điểm của chúng tôi, Indonesia, Malaysia và Việt Nam nằm trong số những quốc gia ít bị ảnh hưởng nhất của thiếu hụt phân đạm, do có năng lực sản xuất nội địa mạnh”, hãng nghiên cứu BMI nói.
Nhưng thực tế thị trường có thể rất phức tạp. Về lý thuyết, Indonesia có đủ urê cho nhu cầu trong nước và đủ nguồn cung khí tự nhiên. Tập đoàn quốc doanh Pupuk Indonesia là nhà sản xuất urê lớn nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Nhưng Saraswanti Anugerah Makmur (SAM), một công ty Indonesia chuyên pha trộn urê với các nguyên tố khác, chỉ còn nguồn cung urê cho khoảng 45 ngày, theo Tổng giám đốc Yahya Taufik.
Trong khi đó, Đài Loan nói có đủ nguyên liệu thô làm phân bón để kéo dài trong khoảng 6-8 tháng. Ngay cả những đơn vị có nguồn cung an toàn, như Brunei Fertilizer Industries (BFI) – công ty chuyển hóa khí tự nhiên thành urê, cũng bị ảnh hưởng.
“BFI sử dụng nguồn khí đốt của Brunei. Vì vậy, chúng tôi hoàn toàn không bị tác động bởi nguồn cung khí đốt”, CEO Harri Kiiski nói với Nikkei Asia. Nhưng, nếu giá khí tự nhiên vẫn ở mức cao trong một vài tháng tới, áp lực tài chính với BFI sẽ rõ hơn.
Nhưng cuộc chiến Trung Đông cũng là sự phân hóa giữa “cây giàu cây nghèo”. Tình trạng thiếu hụt phân bón hay giá tăng gây tác động khác nhau tùy theo loại cây trồng. Các đồn điền cọ dầu, chiếm khoảng 90% khách hàng của SAM, sẽ ít bị áp lực giá phân bón nhờ giá dầu cọ đang ở mức cao. Riêng các trang trại cao su hay hộ nông dân nhỏ lẻ đang canh tác cà phê, mía đường và ca cao sẽ chịu cú sốc giá nặng nề hơn, do giá các nông sản này thấp.

Sai lầm lớn hơn – bỏ lỡ mùa vụ
Nguồn cung có thể tiếp tục bị gián đoạn thời gian dài.
Bà Cross tin rằng các nhà máy Trung Đông vẫn đang sản xuất nhưng không thể xuất khẩu, nhà kho không còn chỗ trống và họ sẽ sớm phải đóng cửa. Điều này sẽ dẫn đến sự gián đoạn trong dài hạn hơn bởi vì ngay cả khi eo biển Hormuz mở cửa trở lại, họ sẽ cần thời gian để tái khởi động sản xuất.
Dù vậy, giá urê cũng có thể tăng cao hơn nữa. Giá urê vốn đã từng chạm mức hơn 1.000 đô la/tấn trong thời gian ngắn sau khi Nga đưa quân vào Ukraine vào tháng 2-2022.
Đến một thời điểm nhất định, nông dân sẽ có thể dừng mua và giá phân bón sẽ giảm, Kiiski lập luận. “Tôi nghĩ có những rào cản tâm lý và 1.000 đô la chắc chắn là mức mà người ta sẽ không vượt qua. Ngay cả ở mức giá 400 đô la trước khủng hoảng, sức mua đã là một dấu hỏi lớn”.
Nhưng dẫu giá đi xuống, chưa chắc nông dân sẽ sẵn sàng mua.
“Khi giá bắt đầu đi xuống, mọi người sẽ trì hoãn mua vào. Tình hình sẽ càng tồi tệ, bởi phân bón sẽ chất đống trong kho. Bỏ lỡ thời điểm bón hoặc bón sai thời vụ làm giảm năng suất cây trồng”, bà Cross kết luận.
Giá trong nước bám sát giá thế giới
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá phân bón tại Việt Nam tăng mạnh từ tháng 3-2026. Ở miền Nam, DAP là mặt hàng tăng mạnh nhất khi DAP Hàn Quốc lên 1,13 triệu đồng một bao 50 ký, tăng 50.000 đồng so với bình quân hai tháng đầu năm. Một số dòng NPK như Cò Bay; Cò Vàng cũng tăng tương tự, lên lần lượt 870.000 và 785.000 đồng một bao. Trong khi đó, nhóm tăng nhẹ gồm DAP Trung Quốc đạt 886.000 đồng một bao, urê Phú Mỹ 553.100 đồng và NPK quốc tế 1,193 triệu đồng một bao, với mức tăng phổ biến 1.000-3.000 đồng. Tính chung quí 1, mặt bằng giá phân bón tăng mạnh so với cùng kỳ. DAP Trung Quốc tăng khoảng 11%, NPK quốc tế tăng 8%, trong khi urê Trung Quốc tăng khoảng 5%.
Trên thị trường thế giới, theo khảo sát của DTN – đơn vị chuyên theo dõi thị trường nông nghiệp toàn cầu, giá cả 8 loại phân bón chủ lực đều tăng so với tháng 2. UAN28 tăng mạnh nhất (13%), urê tăng 12% lên 674 USD một tấn, trong khi urê khan vượt mốc 900 USD một tấn – cao nhất kể từ tháng 5/2023. So với cùng kỳ, nhiều mặt hàng tăng mạnh quanh mức 11-31%.
Xung đột Trung Đông khiến giá dầu leo thang, đẩy chi phí đầu vào và logistics tăng cao (vận tải quốc tế tăng 20-30%, nội địa tăng 15-20%). Theo đại diện PVCFC, mỗi 10 đô la giá dầu tăng có thể đội chi phí doanh nghiệp này thêm 525 tỉ đồng.
Ricky Hồ / BSA Media




















