Tại vòng bán kết Cuộc thi Khởi nghiệp Xanh lần thứ 12, khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, tại Bảo tàng Thế giới Cà phê, Đắk Lắk, những câu chuyện về phụ phẩm nông nghiệp, thủy sản và sinh khối tự nhiên… bị bỏ đi thành sản phẩm mà thị trường thực sự muốn mua.
Nếu một phần lớn cá ngừ đại dương sau chế biến bị bỏ đi, có thể làm gì với nó? Nhóm sinh viên Trường Đại học Nha Trang trả lời bằng một chai nước uống dinh dưỡng.
Nếu lá bàng biển rụng xuống rồi trở thành rác, có thể biến nó thành một loại vật liệu mới hay không? Một nhóm trẻ từ Đắk Lắk trả lời bằng những chiếc chén, đĩa và sản phẩm quà tặng.
Nếu bèo Wolffia nhỏ bé có thể sinh trưởng nhanh và chứa hàm lượng protein cao, tại sao không xem nó như một nguồn thực phẩm mới? Nhóm Wolfpro Biotech ở Lâm Đồng đang tìm cách trả lời câu hỏi đó.
Còn với vỏ sầu riêng, một thứ ngày càng chất đống ở những vùng trồng sầu riêng, một dự án tại Đắk Lắk muốn biến nó thành biochar, giấm gỗ và phân hữu cơ.
Các dự án bảng A thi trong buổi sáng đã đưa ban giám khảo đi qua một bức tranh khá đặc biệt về khởi nghiệp xanh, không nhất thiết phải tìm một nguyên liệu mới, mà lại là từ những thứ đang bị bỏ quên.
Từ xương cá ngừ đến một chai nước uống

Dự án Upcycling Tunava của nhóm Nguyễn Thị Mỹ Huyền, Bùi Ngọc Như Ý và Nguyễn Vũ Lân, đến từ Khánh Hòa – Đắk Lắk, nhóm lấy phụ phẩm cá ngừ đại dương như xương, da, nội tạng để ứng dụng công nghệ thủy phân bằng enzyme, hướng tới thu hồi collagen peptide, canxi và protein.
Sản phẩm đầu tiên là Tunadrink, một loại nước uống dinh dưỡng dạng lỏng.
Theo thành viên dự án, nhóm đã hoàn thiện nguyên mẫu, có kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm và đang khảo nghiệm thị trường. Dự án cũng đã có cam kết đầu tư 950 triệu đồng từ Công ty TNHH Hải Sản Bình Minh, cùng các cam kết về nguyên liệu, gia công và đầu tư từ một số đối tác.
Nhưng khi bước lên sân khấu, câu chuyện lập tức chuyển từ “ý tưởng hay” sang một câu hỏi khó hơn. Vì sao khách hàng phải mua chai nước này? Giám khảo Vũ Trung Hòa hỏi?
Một giám khảo hỏi thẳng nhóm nên định vị Tunadrink là nước uống dinh dưỡng, thực phẩm chức năng hay một dạng sản phẩm khác. Nhóm chọn nước uống dinh dưỡng hỗ trợ sức khỏe, bởi để đi theo hướng thực phẩm chức năng sẽ cần thêm những yêu cầu pháp lý và kỹ thuật.
Nhưng TS Phan Văn Minh tiếp tục đi sâu hơn, ông yêu cầu nhóm đưa ra các số liệu về thành phần amino acid, collagen, hiệu suất thủy phân và đặc biệt là so sánh bài toán kinh tế: nếu người dân bán phụ phẩm cá theo cách thông thường thì họ thu được bao nhiêu, còn nếu đưa vào quy trình của dự án thì giá trị tăng thêm là bao nhiêu? Nó phải chứng minh được vì sao cách làm mới tạo ra giá trị cao hơn cách làm cũ.
Một con số trong phần trao đổi cũng khiến nhóm phải suy nghĩ lại, hàm lượng collagen được giám khảo đề cập ở mức 0,39%, amino acid khoảng 2% trong mẫu được trình bày.
Nếu sản phẩm muốn thuyết phục người tiêu dùng bằng câu chuyện dinh dưỡng, những con số này phải được giải thích rõ ràng, thậm chí có thể phải tiếp tục hoàn thiện công thức.
Giám khảo Nguyễn Thị Quỳnh Viên đặt thêm một câu hỏi khác, với nguyên liệu từ cá ngừ, nhóm kiểm soát histamine và các yếu tố gây dị ứng như thế nào? Một ý tưởng tốt, vì vậy, chưa thể trở thành một sản phẩm tốt nếu chưa giải được những câu hỏi về thành phần, an toàn, pháp lý và niềm tin của người tiêu dùng.
Lá bàng biển và bài toán “thay thế nhựa”
Dự án B-ECO của Trần Biểu và các thành viên Sơn Hoàng Hiếu, Mai Trần Thiện Tâm lại nhìn về phía những chiếc lá rụng ven biển. Dự án đến từ Đắk Lắk, khai thác lá bàng biển để tạo vật liệu sinh học, từ đó phát triển chén, đĩa phục vụ ngành F&B, sản phẩm mỹ nghệ, trang trí và quà tặng.
Nhóm đặt mục tiêu xây dựng một nền tảng vật liệu từ sinh khối, từ một nguồn nguyên liệu có thể phát triển thành nhiều dòng sản phẩm và nhiều phân khúc khách hàng.
Dự án đã có sản phẩm được sử dụng, từng tham gia các chương trình triển lãm, kết nối doanh nghiệp và có những đơn hàng thử nghiệm. Nhóm cho biết đã hình thành nguồn vốn ban đầu 210 triệu đồng và đang cần huy động thêm để đạt mức đầu tư dự kiến gần 489 triệu đồng.
Nhưng một câu hỏi của ban giám khảo lập tức chạm vào điểm yếu của mô hình: Có đủ lá để sản xuất ở quy mô lớn hay không?
Nhóm đưa ra vùng nguyên liệu khoảng 2 ha tại Phú Yên. Nhưng ban giám khảo không dừng ở diện tích, câu hỏi được đẩy xuống một cấp cụ thể hơn, rằng một năm có bao nhiêu tấn lá?
Theo giám khảo Nguyễn Đông Triều – Chuyên gia đào tạo Hội Doanh Nghiệp HVNCLC, nếu nguyên liệu phụ thuộc vào lá rụng tự nhiên, doanh nghiệp phải biết nguồn cung thực tế là bao nhiêu, mùa nào có nguyên liệu, chi phí thu gom thế nào và vận chuyển ra sao.
Giám khảo Vũ Trung Hòa cũng lưu ý nhóm không nên quá dễ dàng dùng cụm từ “thay thế nhựa dùng một lần”. Nhựa có lợi thế rất lớn về giá và tính tiện dụng. Một vật liệu mới muốn cạnh tranh phải giải được cả bài toán giá thành lẫn thói quen tiêu dùng.
Nói cách khác, xanh chưa đủ. Phải tiện, phải hợp túi tiền và phải có lý do để người tiêu dùng thay đổi.
Bèo nhỏ và tham vọng trở thành nguồn protein mới
Dự án Wolfpro Biotech của Nguyễn Phú Hoài, Nguyễn Đình Trí và Trần Hoàng Phúc, đến từ Lâm Đồng, lại mở ra một hướng khác: tìm kiếm nguồn thực phẩm mới từ Wolffia globosa, một loài bèo tấm có kích thước rất nhỏ.
Nhóm nuôi Wolffia trong điều kiện kiểm soát, nghiên cứu các yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, pH và môi trường dinh dưỡng, sau đó phát triển thành các dòng sản phẩm như bột dinh dưỡng, viên bổ sung, sữa chua sấy thăng hoa và sản phẩm protein dành cho người tập luyện.
Theo hồ sơ, nhóm đã thực hiện 32 nghiệm thức để tối ưu quy trình nuôi và đã phát triển mẫu bốn dòng sản phẩm.
Giám khảo Trần Quốc Bảo – Chuyên gia phát triển bền vững – Luật sư điều hành hỏi, tại sao tôi phải mua sản phẩm này?
Nhóm bắt đầu trả lời bằng giá thành và thành phần dinh dưỡng. Nhưng giám khảo tiếp tục kéo câu chuyện về người tiêu dùng: sản phẩm ngon chưa đủ. Người mua phải có một lý do cụ thể để lựa chọn nó giữa hàng trăm sản phẩm khác.
Sau đó, TS Phan Văn Minh lại quay về chuyên môn. Nếu nuôi Wolffia trong nhà màng 1.000 m² mà doanh thu dự kiến chỉ khoảng vài chục triệu đồng mỗi tháng, liệu mô hình có đủ hấp dẫn đối với nông dân?
Ông gợi ý nhóm nghiên cứu mô hình nuôi tuần hoàn để tăng mật độ và năng suất, bởi một công nghệ có thể đúng về mặt khoa học, nhưng nếu hiệu quả kinh tế chưa đủ hấp dẫn thì rất khó nhân rộng.
Vỏ sầu riêng, từ thứ bỏ đi thành một “nhà máy” nhỏ

Nếu có một nguyên liệu mang tính thời sự rất rõ ở Tây Nguyên, đó là vỏ sầu riêng. Dự án của Nguyễn Bá Sơn, Công ty CP Phú Nguyên Agritech, tại Đắk Lắk, chọn chính phần vỏ này làm nguyên liệu cho hệ thống nhiệt phân yếm khí.
Vỏ sầu riêng được đưa vào quy trình để tạo ra biochar, giấm gỗ, khí syngas và phân hữu cơ giàu carbon. Theo đại diện dự án, hệ thống đã vận hành thực tế trong sáu tháng, với 13 mẻ sản xuất, thu được 3.377 kg biochar và 1.627 lít giấm gỗ.
Giám khảo Vũ Trung Hòa hỏi ngay, vì sao dự án phải chờ đến năm 2028–2029 mới tính đến thị trường carbon, trong khi hệ thống đã vận hành thực tế.
Đại diện dự án cho biết nhóm đang hoàn thiện hệ thống MRV, tức đo lường, báo cáo và thẩm định, để có thể chứng minh lượng giảm phát thải và tiến tới đăng ký tín chỉ.
Trong nền kinh tế carbon, không thể chỉ nói rằng sản phẩm “xanh”, “carbon âm” hay “giảm phát thải”. Những tuyên bố đó cần một hệ thống dữ liệu và phương pháp đo lường đủ tin cậy.
Ban giám khảo cũng đề nghị nhóm tiếp cận cơ quan khoa học và công nghệ tại địa phương để tìm thêm nguồn lực cho một dự án công nghệ có tác động môi trường và xã hội.
Khi vỏ chanh dây trở thành câu chuyện về sinh kế

Dự án Mứt chanh dây sấy dẻo và nước cốt chanh dây mật ong rừng của Đặng Thị Hồng Đào lại gần với đời sống kinh doanh hơn.
Nhóm phát triển các sản phẩm từ chanh dây như mứt sấy dẻo, nước cốt, trà và đồ uống, gắn thương hiệu với hình ảnh đặc sản Phú Yên.
Dự án đã bán ra thị trường, với khoảng 2.350 sản phẩm mỗi tháng và mục tiêu doanh thu năm 2026 khoảng 1 tỷ đồng.
Đây cũng là dự án có một chi tiết rất thú vị khi đặt cạnh dự án vỏ sầu riêng. Một bên muốn thu gom phụ phẩm để nhiệt phân. Một bên muốn tận dụng phần nguyên liệu còn lại để làm sản phẩm thực phẩm.
Nếu sản phẩm đã bán được, câu hỏi tiếp theo là khách hàng chọn nó vì điều gì?
Theo chị Hồng Đào, đó là: “Không chất bảo quản”, “nguyên liệu tự nhiên”, “sản phẩm địa phương” là những thông điệp nhiều sản phẩm đặc sản hiện nay đều có thể sử dụng.
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Viên đặt câu hỏi, trong một quầy hàng có rất nhiều loại mứt, trà và sản phẩm nông nghiệp tương tự, điều gì khiến khách du lịch nhìn thấy sản phẩm này và chọn nó đầu tiên? Một sản phẩm địa phương muốn đi xa không thể chỉ kể rằng nó được làm từ nguyên liệu địa phương. Nó phải khiến người mua nhớ được nơi nó sinh ra.
Với dự án chanh dây, câu chuyện về Phú Yên, về vùng nguyên liệu, về người nông dân và cách những phần nguyên liệu được tận dụng có thể trở thành một phần quan trọng của thương hiệu.
Bà Quỳnh Viên cũng gợi ý một hướng đáng chú ý, đưa phụ nữ, người khuyết tật và những nhóm yếu thế vào chuỗi giá trị, từ trồng, thu hái, sơ chế, chế biến đến bán hàng.
Một số hình ảnh trong buổi sáng ngày thi đầu tiên bảng A:

























